Sponsors

Giới Thiệu

Thứ Hai, 24 tháng 11, 2014

Gio An một thoáng quê hương

Bài viết sẽ cập nhật sau: (tông hợp hình ảnh các thôn...)
------------------------------------------------------------

















Chủ Nhật, 23 tháng 11, 2014

Một thoáng quê hương Gio An



ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ, VĂN HÓA XÃ HỘI VÀ TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC
1. Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội
- Về kinh tế
Người Gio An chủ yếu sống bằng nghề nông. Mặc dù khí hậu, thời tiết khắc nghiệt nhưng với tiềm năng đất đai màu mỡ, từ lâu đời, Gio An là vùng đất trù phú với các loại cây hồ tiêu, dứa, chè, mít, chuối. Ở đây có loại nếp suốt, nếp đa đa, nếp mộng, nếp sáp nổi tiếng. Các loại cây lạc, cây hồ tiêu và sau này có cây cao su là nguồn thu nhập chủ yếu. Tuy diện tích nhỏ hẹp, bị chia cắt bởi các gò, đồi, độ phì nhiêu kém, việc dẫn nước tưới tiêu rất khó khăn (chủ yếu là thiếu nước) nhưng cũng từ rất sớm, con người nơi đây chinh phục tự nhiên để phát triển nghề trồng lúa nước.
Khi thực dân Pháp sang xâm lược, chúng đã đưa cây rau xà lách soong (người dân nơi đây gọi là rau liệt) đến trồng và người dân Gio An tiếp tục phát triển, trở thành cây thực phẩm đặc sản của quê hương.
Cùng với nghề nông, tiểu thủ công nghiệp và lâm nghiệp ở Gio An khá phát triển như nghề mộc, nghề rèn, đan lát, may mặc, khai thác lâm sản.
Xa xưa, tuy địa thế hiểm yếu, giao thông khó khăn nhưng Gio An vẫn là trung tâm của miền Tây Gio Linh, giao lưu buôn bán ở đây khá phát đạt. Chợ An Nha ở Gio An có từ rất sớm, là nơi tụ họp, trao đổi hàng hóa của nhân dân trong vùng.


- Về văn hóa, xã hội
             Các nhà khảo cổ học đã khẳng định: vào thời tiền sử và sơ sử, ở miền biển và ven biển Quảng Trị đã có một bộ phận cư dân tiền ChămPa sinh sống, song hành phát triển với tộc người thuộc ngữ hệ MônKhơme (tổ tiên của bà con Vân Kiều, Tà Ôi (Pa Cô)) ở hai bên triền Đông - Tây Trường Sơn (Việt - Lào) ngày nay.
Trên vùng đất Quảng Trị nói chung hay Gio An nói riêng; bất chấp chiến tranh, biến động, gần một thiên niên kỷ tạo lập vương quốc (thế kỷ IV-XI), người Chăm đã để lại một hệ thống di sản văn hóa khá lớn. Trong đó, độc đáo và tiêu biểu là hệ thống các công trình khai thác nước cổ Gio An.
Tiếp quản vùng đất mới, song hành với quá trình hình thành làng xã, nhằm an cư lập nghiệp lâu đời; người Việt đã kế thừa những thành quả đã có, cải tạo và phát huy tác dụng để đáp ứng đời sống kinh tế - xã hội của mình. Hệ thống các công trình khai thác nước cổ Gio An là một đặc trưng tiêu biểu. 


"Đó là một hệ thống công trình khai thác nước cổ sử dụng chất liệu đá xếp với nhiều kiểu kiến trúc độc đáo, mang tính chất đa chức năng, phục vụ đắc lực cho đời sống sản xuất và sinh hoạt của con người qua bao đời; nằm rải rác phía Bắc và phía Nam đường 75, địa phận các làng An Nha, An Hướng, Hảo Sơn, Long Sơn, Thanh Khê, Tân Văn thuộc xã Gio An (Nhằm bảo vệ những công trình khai thác nước cổ có một không hai này, ngày 13-3-2001, Bộ Văn hoá Thông tin đã ra Quyết định số 08-2001/QĐ-BVHTT công nhận 14 giếng tiêu biểu trong toàn bộ hệ thống này vào hạng di tích quốc gia.). Hệ thống giếng cổ trên đất Gio An mang những tên gọi thuần Việt, do chính những người dân Việt vùng này đặt tên và phân bố khá đều trên từng khu vực của các làng. Làng Hảo Sơn có giếng Ông, giếng Bà, giếng Tép, giếng Gai. Làng Long Sơn có giếng Máng, giếng Cây Thị, giếng Cây Bàng. Làng Tân Văn có giếng Trằm, giếng Pheo, giếng Boộng, giếng Làng. Làng An Nha có giếng Đào, giếng Kình, giếng Trạng, giếng Búng, giếng Sỏi. Làng Gia Bình có giếng Họng, giếng Đìa, giếng Tranh, giếng Xóm, giếng Tắt. Làng An Hướng có giếng Côi, giếng Dưới, giếng Dù, giếng Mít, giếng Đuồi, giếng Sợi. Làng Thanh Khê có giếng Nậy, giếng Gái. Làng Phương Xuân có giếng Phường.... 
Hàng trăm năm đã qua, với bao cuộc chiến tranh khốc liệt và tác động của điều kiện tự nhiên, xã hội nhưng một số lượng lớn các công trình nước cổ ở Gio An vẫn giữ được nguyên trạng và con người nơi đây vẫn gìn giữ, sử dụng nó phục vụ đời sống.
Hệ thống các công trình khai thác nước cổ này được xây dựng ven các quả đồi lớn, nhỏ trong hệ thống đồi bazan Cồn Tiên. Đặc điểm kỹ thuật nổi bật là các công trình đều được xây dựng theo phương thức xếp, kè đá và đều cùng chung mục đích là khai thác nguồn nước ngầm để thực hiện hai chức năng: cung cấp nước sinh hoạt và phục vụ sản xuất nông nghiệp. Kết cấu của chúng phụ thuộc vào từng loại mạch cụ thể (ngầm hay phun nổi), nhưng tất cả đều lợi dụng sự chênh lệch về độ cao để tạo ra dòng chảy tự nhiên"1.



Trải qua hàng thế kỷ, các công trình khai thác nước cổ ở Gio An đã trở thành sản phẩm văn hóa của nhiều lớp dân cư và đã trở thành một trong những sản phẩm văn hóa đặc sắc, độc đáo, thể hiện lối ứng xử khôn khéo, thông minh của con người trước tự nhiên nhằm khai thác tốt tiềm năng vốn có của vùng đất mà họ gắn bó, thủy chung. Đó là niềm tự hào to lớn của người Gio An.
Sống trên mảnh đất mà chiến tranh, loạn lạc, phân ly thường xuyên xảy ra; điều kiện thiên nhiên lại hết sức khắc nghiệt đã rèn đúc cho con người nơi đây những phẩm chất cao đẹp. Người Gio An từ xưa đã rất nhẫn nại, cần cù, chịu thương, chịu khó, thông minh, sáng tạo, tự lập, tự cường xây dựng cuộc sống và rất khảng khái, bộc trực, thủy chung, có tâm hồn trong sáng, bình dị. Trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, người Gio An kiên cường, bất khuất, dũng cảm, không cam chịu cuộc đời nô lệ. 
Tuy cuộc sống vất vả, khó khăn, nhưng người Gio An vẫn nuôi dưỡng, bồi đắp truyền thống lạc quan, tin tưởng; vẫn hằng mơ ước một cuộc sống no ấm, hạnh phúc qua những điệu hò, câu hát dân ca.... Thời vua Minh Mạng, tại chùa Long Phước cứ ba năm tổ chức hát bội một lần.
Người Gio An nói riêng, người Quảng Trị nói chung đều giữ gìn phong tục thờ cúng tổ tiên. Hầu hết các gia đình đều có bàn thờ tổ tiên trong nhà với ý nghĩa là đạo lý, tình cảm, lòng tôn kính, ơn nghĩa đối với tổ tiên ông bà, cha mẹ và những người thân ruột thịt đã mất. Cùng với việc thờ cúng trong từng gia đình, các chi, họ, dòng tộc còn có nhà thờ và tổ chức cúng giỗ theo một ngày nhất định trong năm.
Đình làng là nơi thờ các vị thần linh và các bậc tiền bối. Dân làng còn lập miếu, đền để thờ thần Hoàng, bà Thủy, bà Hỏa, tiền khai khẩn, thần linh như miếu bà Hoả ở thôn Gia Bình. Trải qua nhiều cuộc chiến tranh tàn phá, dấu tích văn hóa vật thể này đã không còn.
Thời chúa Nguyễn, dân ba làng An Định Nha, An Hướng và Phương Xuân đã dựng miếu ở An Định Nha thờ chúa Nguyễn Hoàng. "Chúa nghe khen tốt, sai quân đem mũ, áo bào thần ngự bày ở miếu, lại sai đặt chức từ thừa để trông coi, cho bằng son"2. Năm 1823, vua Minh Mạng cho dựng chùa Long Phước.


Thế kỷ XVIII, khi Thiên chúa giáo gia nhập vào Quảng Trị, Gio An chỉ có một số dân ở thôn Gia Bình theo đạo. Nhà thờ Gia Bình cũng được xây dựng. Tuy nhiên, chiến tranh loạn lạc, bà con Thiên chúa giáo di tản đến các địa phương khác sinh sống, nhà thờ Gia Bình cũng không còn.
Đạo Phật du nhập vào Gio An khoảng năm 1938. Đến năm 2005, toàn xã có khoảng 30-40 gia đình Phật tử. Ngôi chùa đầu tiên được xây dựng năm 1940 tại Gia Bình, năm 1960 tái thiết chùa tại An Nha, nhưng 2 chùa này đều bị bom đạn tàn phá. Năm 2004, chùa được dựng lại tại thôn Gia Bình để phục vụ sinh hoạt tôn giáo cho nhân dân.
Dưới thời thực dân phong kiến, bộ máy cai trị các làng ngoài lý trưởng và phó lý còn có "ngũ hương". Hương bộ giữ sổ sách đinh điền, quan hôn, tang tế, giấy tờ...Hương kiểm giữ gìn an ninh trật tự. Hương đoàn lo việc canh gác. Hương mục lo việc xã hội và cùng hương đoàn tuần phòng ban đêm. Hương thơ lo việc bưu chính. 
Với mục đích khai thác tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt, thu lợi nhuận tối đa, sau khi chiếm được đất nước ta và đặt ách thống trị lên ba nước Đông Dương, thực dân Pháp biến nền kinh tế Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng lệ thuộc vào nền kinh tế chính quốc. Về mặt xã hội, chúng duy trì chế độ phong kiến lỗi thời, lạc hậu để kìm hãm sự phát triển của đất nước ta.
Thực dân Pháp ra sức chiếm đoạt ruộng đất của nông dân. Bọn quan lại triều Nguyễn cũng dựa vào thế lực thực dân, cướp đoạt ruộng đất. Gio An cũng như các địa phương khác, ngoài phần ruộng đất bị thực dân, phong kiến tước đoạt; số ruộng đất còn lại chủ yếu là của công. Ruộng đất tư chỉ còn 10%. Ruộng đất công, cứ ba năm quân cấp một lần. Đàn ông từ 18-60 tuổi được cấp một suất ruộng; từ 60 tuổi trở lên được cấp nửa suất. Trước khi đưa ra quân cấp, một phần ruộng tốt bị trích làm ruộng tế điền, hương hỏa, du lạp, lương điền, cấp phí điền (tức ruộng cấp cho lý trưởng, phó lý..). Số ruộng này đem ra đấu giá phần lớn vào tay bọn nhà giàu, thực chất là địa chủ cường hào và những nhà giàu khác; dựa vào thế lực biến ruộng công thành ruộng tư, thuê mướn nông dân làm hoặc phát canh thu tô. Số ruộng đất còn lại quân cấp theo thứ bậc. Trong đó, thiệt thòi nhất là bạch đinh, chỉ được nhận những phần ruộng đất xấu. Về danh nghĩa mọi người đều được hưởng một suất ruộng công, nhưng trên thực tế, phần đông nông dân không có ruộng, hoặc chỉ có rất ít, lại thiếu phương tiện canh tác; đến mùa thu hoạch, nhiều nhà không đủ thóc nộp sưu thuế. Một số nông dân có sức lao động, nhưng không có ruộng buộc phải lĩnh canh ruộng của địa chủ, phú nông về làm và nộp tô. Mức địa tô rất nặng: vụ chính phải nộp 50% số thu hoạch, vụ phụ từ 25-30%. Thêm vào đó, người dân còn phải nộp thuế thân, thuế điền thổ, thuế công ích. Dân nghèo không có tiền nộp thuế, thường xuyên bị xiềng tay chân, tra tấn nhục hình.
Địa chủ, phú nông còn bóc lột nông dân bằng cách cho nuôi rẽ trâu, bò, lợn1. 
Cùng với sưu cao, thuế nặng, thực dân Pháp còn đặt ra các thứ “lạc quyên”, “quốc trái”để cướp không của cải và sức lao động của nhân dân ta một cách hợp pháp.
Chính sách kinh tế đó đã xô đẩy nhân dân Gio An cũng như nhân dân Quảng Trị vào con đường bần cùng hóa. Suốt đời cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc; người nông dân phải đem thân đi ở đợ cho địa chủ, phú nông. Nợ nần chồng chất, họ phải đem con gái làm vợ lẽ cho bọn chủ. Nhiều người phải tha hương cầu thực, lìa bỏ gia đình, quê hương vào các đồn điền, hầm mỏ làm thuê kiếm sống. Một số phiêu bạt tận Lào, Thái Lan, không mong ngày trở về...
Về chính trị, nhân dân Gio An bị tước bỏ mọi quyền tự do, dân chủ; luôn bị bộ máy tay sai đắc lực của thực dân phong kiến khống chế, đàn áp.
Đến năm 1925, Gio An mới có một trường học, nhưng chỉ có một phòng học, chia làm ba lớp, mỗi lớp chỉ có 5, 6 học sinh từ lớp 5 đến lớp 3 và cũng chỉ có một giáo viên. Đến năm 1940, ở An Hướng xây thêm một trường, 2 phòng học, hai giáo viên. Vì vậy, hầu hết nhân dân mù chữ. Trạm y tế không có, dịch bệnh thường xuyên xảy ra cướp đi sinh mạng của rất nhiều người. Trong bối cảnh đó, các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan phát triển, càng tạo điều kiện cho thực dân, phong kiến lừa bịp, bóc lột.
Mặc dù việc học hành của người dân rất khó khăn nhưng Gio An vẫn có người học giỏi, đỗ đạt, tiêu biểu có ông Lê Chuẩn, sau đổi là Hoành (có tài liệu ghi là họ Lâm-Lâm Hoằng), quê ở Gia Bình. Ông sinh năm Giáp Thân (1824), 45 tuổi thi Hội khoa Mậu Thân, niên hiệu Tự Đức thứ 21 (1868) đỗ Phó bảng, làm quan đến chức Tham tri Bộ công, sung vào việc phòng thủ mặt biển ở cửa Thuận An, hy sinh vì nước. Sau khi mất, ông được truy tặng chức Thượng thư.
Dưới ách thống trị, khai thác và bóc lột của thực dân Pháp, tình hình xã hội Gio An đã thay đổi. Bên cạnh mâu thuẫn giữa giai cấp địa chủ, phong kiến với nông dân, còn có mâu thuẫn đối kháng sâu sắc giữa nhân dân Gio An với thực dân xâm lược. 
Giai cấp nông dân chiếm phần lớn số dân trong xã. Từ xa xưa, người Gio An đã cần cù, thông minh, chịu thương, chịu khó, biết chinh phục thiên nhiên phục vụ sản xuất và đời sống. Nhưng dưới chế độ cũ, nông dân Gio An bị thực dân phong kiến, địa chủ, phú nông bóc lột, đàn áp đủ bề. Thêm vào đó, thiên tai thường xuyên xảy ra; hạn hán, lụt lội càng làm cho đời sống người nông dân cơ cực, khốn khổ. Lợi dụng cơ hội đó, giai cấp địa chủ cường hào tăng cường đầu cơ tích trữ lương thực, mua rẻ, bán đắt, bắt chẹt nông dân, khiến họ lâm vào cảnh bần cùng.
Nước mất, nhà tan, cũng như người nông dân cả nước, nông dân Gio An luôn tỏ rõ chí khí kiên cường, bao phen đứng lên đánh giặc ngoại xâm, mong muốn Tổ quốc độc lập, người cày có ruộng. Khi có Đảng lãnh đạo, đông đảo nông dân Gio An đứng lên theo Đảng làm cách mạng.



Nguồn từ: fb: https://www.facebook.com/gioan.quetoi


Vang từ trống trận Gio An

Ai đã từng nghe bài hát nổi tiếng "Tiếng đàn ta lư" của nhạc sĩ Huy Thục hẳn còn nhớ giai điệu và ca từ rất rộn ràng "Tiếng trống trận từ Gio An vọng tới. Rừng núi ta ơi hãy thắm xanh vui cùng bản làng. Mừng thắng trận Gio An...". Đây chính là chiến công vang lừng của Trung đoàn 38 (Đoàn Gio An), Sư đoàn 2, Quân khu 5.
Bắt sống 55 lính Mỹ
Nhân kỷ niệm 60 năm ngày thành lập (20-9-1954 - 20-9-2014), Trung đoàn 38, đơn vị Anh hùng LLVTND đã có cuộc giao lưu, tiếp lửa truyền thống giữa 10 cựu chiến binh (CCB) với hơn 500 CBCS tại Đắc Pơ (Gia Lai). Đó là những nhân chứng sống đã đi qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước, làm nhiệm vụ quốc tế ở hai nước bạn Lào và Campuchia.
Đại tá Đinh Ngọc Xước, nguyên Chính ủy Trung đoàn kể lại  lịch sử của đơn vị: Thành lập tại Quân khu 5, với tên gọi đầu tiên là Trung đoàn 84 sau đó là 90, qua nhiều lần thay phiên hiệu, thường xuyên di chuyển từ Nam ra Bắc, rồi từ Bắc trở lại Nam, nhưng tên tuổi và cốt cách 38 chưa bao giờ mất đi mà ngày càng chói sáng, xây đắp nên truyền thống vẻ vang "Cơ động, tiến công dũng mãnh, chốt giữ kiên cường". 
Tháng 6-1967, Trung đoàn bước vào chiến đấu trên khu vực Đường 9 - Gio An (Gio Linh, Quảng Trị), thực hiện chiến thuật vận động tấn công kết hợp chốt đánh tạo thế, dụ địch vào địa bàn ta đã chuẩn bị sẵn. Chọn khu Hội đồng hương chính xã Gio An làm quyết chiến điểm, sau 7 ngày chiến đấu liên lục, kiên cường và quyết liệt, Trung đoàn và các đơn vị phối thuộc, phối hợp đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.300 tên địch, đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ, bắn cháy 11 xe tăng, bắn rơi 14 máy bay, thu nhiều phương tiện chiến tranh, giải phóng hầu hết xã Gio An.
Đại đội 1, K8 (nay là Đại đội 5, Tiểu đoàn 5) đã tiêu diệt hơn 250 lính thủy đánh bộ Mỹ, lập kỷ lục cao về bắt tù binh, gần một nửa số quân của đại đội trở thành "Dũng sỹ diệt Mỹ". Từ đây tên gọi "Đoàn Gio An"  hay "Trung đoàn thiện chiến Gio An" luôn gắn liền với phiên hiệu của Trung đoàn.                                
Tặng hoa cho các cựu chiến binh tham gia đêm giao lưu.
Trận huyết chiến ở làng Thanh Lương và Phước Yên
CCB Lê Hà Học và Đỗ Xuân Cường đến TPHCM và Bà Rịa-Vũng Tàu rưng rưng trong tình cảm chân tình của đồng đội. Đây là hai chiến sĩ của Trung đoàn vừa được Bộ Tư lệnh Quân khu đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND. Trận huyết chiến ở làng Thanh Lương và Phước Yên (TT- Huế), một mình K8 (nay là Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 38) phải đối mặt với sự bao vây của 7 tiểu đoàn địch có hỏa lực mạnh hơn hàng trăm lần.
CCB Lê Hà Học nhớ lại: "Khi được giao nhiệm vụ bảo vệ thương binh, tôi đã sử dụng một lúc 4 loại vũ khí, tiêu diệt một ổ đề kháng của địch, diệt 20 tên Mỹ rồi mở đường máu rút lui. Sau gần 1 tuần liên tục chiến đấu, quần nhau với địch, K8 đã tiêu diệt hơn 200 lính Mỹ. Tuy nhiên, đây là trận đánh không cân sức. Hàng trăm CB, CS K8 và lực lượng địa phương đã mãi mãi nằm lại. Làng Phước Yên hôm nay đã có một tượng đài kỷ niệm về trận đánh bi tráng này".
 Còn CCB Đỗ Xuân Cường kể lại trong cơn nguy khốn, giữa vòng vây ngày càng siết chặt của quân thù, ông đã bắn một lúc 14 quả đạn B41 phá vòng vây, mở đường máu để lực lượng ta rút an toàn. Bị thương nặng bất tỉnh bên hàng rào chiến lược, đồng đội đã chôn ông tại chỗ. Khi dọn chiến trường địch đã phát hiện người lính cảm tử còn sống sót và sơ cứu, sau đó đày đi tù Phú Quốc cho đến ngày trao trả.
Bị thương 81% với hàng chục mảnh đạn M79 nhỏ vẫn mang trong người, dù phải thường xuyên nằm điều trị ở bệnh viện nhưng người CCB này luôn tràn đầy niềm yêu đời. Ông nói với chiến sĩ Trung đoàn 38: "Thế hệ các chú nhiều người cận kề cái chết nên càng quý càng yêu từng phút giây được sống thanh bình hôm nay. Hy vọng các cháu sẽ tiếp nối cha anh gìn giữ đất nước mình".
Trung đoàn 38 hành quân diễn tập tác chiến biển đảo. 
Hòn Chiêng, Cấm Dơi và giải phóng Trường Sa                                                 
"Trung đoàn 90 là đứa con của nhân dân Khu V, được Đảng, Nhà nước và nhân dân Khu IV chăm sóc, nuôi dưỡng, trưởng thành, nay về chiến đấu giải phóng quê hương", lời nói của đồng chí Tư lệnh Quân khu 5 Chu Huy Mân đã thôi thúc Trung đoàn lập công. Đại tá Nguyễn Đức Thuận, nguyên Chủ nhiệm Hậu cần Sư đoàn kể: Năm 1972, sau thất bại ở Hiệp Đức (Quảng Nam), quân địch lùi về củng cố tuyến phòng thủ cơ bản ở thung lũng Quế Sơn.
Trong các cứ điểm đó, Hòn Chiêng là quan trọng nhất, được địch ví như "con mắt thần" ở thung lũng Quế Sơn. Nhiệm vụ của Trung đoàn 38 là tiêu diệt cứ điểm Hòn Chiêng, chốt giữ cứ điểm, thực hiện đánh tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch lên phản kích. Trận đánh mà Sư đoàn dự kiến là khó khăn nhất, lại hoàn thành sớm nhất.
Sau 10 ngày tổ chức phản kích quyết liệt, cuối cùng tướng Ngô Quang Trưởng- Tư lệnh Vùng I chiến thuật của địch phải ngậm ngùi để lại câu nói chua xót "Vĩnh biệt Hòn Chiêng".  Tiếp nối Hòn Chiêng ngày 18-8-1972, Trung  đoàn 38 cùng Trung đoàn 31 nổ súng dồn dập tiến công Cấm Dơi. Sau hai ngày chiến đấu quyết liệt, Cấm Dơi hoàn toàn bị tiêu diệt. Hơn một vạn dân ở thung lũng Quế Sơn được giải phóng.                            
Năm 1975, Trung đoàn 38 cùng một số đơn vị địa phương hình thành một cánh quân giải phóng thị xã Tam Kỳ, căn cứ Tuần Dưỡng, Hà Lam, tiến công thần tốc giải phóng bán đảo Sơn Trà và TP Đà Nẵng. Tiểu đoàn 4 của Trung đoàn vinh dự được giao nhiệm vụ tiến quân, giải phóng quần đảo Trường Sa của Tổ quốc. Sau 18 ngày, kể từ khi xuất phát tại Đà Nẵng, Tiểu đoàn 4 cùng các lực lượng tăng cường đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn quần đảo Trường Sa, góp phần thu giang sơn về một mối.                                                                                                  
Gắn bó, duyên nợ với Trường Sa, 3 năm nay, Trung đoàn 38 được Quân khu 5 giao nhiệm vụ huấn luyện tác chiến biển đảo. Lính bộ binh, đóng quân trên núi cao, nhưng hàng trăm chiến sĩ Trung  đoàn đã miệt mài huấn luyện thuần thục như một chiến sĩ Hải quân, thường xuyên hành quân hàng trăm cây số diễn tập tại các địa phương ven biển, sẵn sàng tham gia bảo vệ biển đảo khi có tình huống. Noi gương các thế hệ đi trước, khi Tổ quốc gọi, Đoàn Gio An sẵn sàng, đó là tâm sự và lời hứa của lớp thế hệ trẻ Trung đoàn 38 hôm nay trong đêm giao lưu "tiếp lửa" đầy xúc động  giữa núi rừng Đắc Pơ.
Hồng Vân

Thứ Bảy, 22 tháng 11, 2014

TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG QUÂN DÂN XÃ GIO AN



Nhân dân Gio An có truyền thống yêu nước nồng nàn. Từ năm 1075 đến 1306, Cửa Việt - sông Hiếu là ranh giới giữa ChămPa và Đại Việt. Từ 1307 đến 1400, Quảng Trị gồm đất của châu Minh Linh và châu Thuận, một bộ phận của nước Đại Việt thời Trần. Quảng Trị là vùng đất địa đầu của đất nước, chiến tranh biên giới xảy ra liên miên. Trong hơn 300 năm giằng co của cuộc chiến tranh biên giới Việt - Chăm, cũng như cả tỉnh, người dân Gio An đã sống chết trên mảnh đất quê hương, biết bao mồ hôi và máu đã đổ xuống càng làm bền chặt hơn tinh thần tương trợ cộng đồng làng xã, thắt chặt hơn trong quan hệ làng nước. Bao phen đứng lên chống giặc ngoại xâm, người dân Gio An càng nung nấu ý chí quyết tâm bảo vệ và dựng xây quê hương ngay từ buổi đầu tạo lập, góp phần quan trọng vào việc ổn định tình hình quốc phòng và an ninh Đại Việt. Khí phách anh hùng của người Gio An càng được hun đúc và tỏa sáng.
Năm 1407, phong kiến phương Bắc (nhà Minh) lại đem quân xâm lược nước ta. Trong buổi đầu, lợi dụng sự cai trị lỏng lẻo của giặc Minh; người dân Gio An cùng cả tỉnh Quảng Trị theo tướng Đặng Tất giết chết bọn quan lại nhà Minh ở châu Hóa rồi hợp lực với cuộc khởi nghĩa ở Nghệ An do Trần Ngỗi đứng đầu, lập chiến thắng lẫy lừng vào tháng 4-1408. Cuộc khởi nghĩa kéo dài đến năm 1413. Sau khi đàn áp được cuộc khởi nghĩa này, tướng giặc Trương Phụ đã áp dụng một chính sách cai trị vô cùng tàn bạo với dân châu Thuận. Nhưng điều đó cũng không dập tắt được ngọn lửa yêu nước đã được bồi đắp hàng thế kỷ của nhân dân vùng đất này. Người Gio An lại đứng lên tham gia các cuộc khởi nghĩa khác do các nhà yêu nước lãnh đạo.
Đến năm 1425, Lê Lợi đem quân đánh vào châu Thuận, nhân dân Gio An cùng đồng bào hai châu hưởng ứng nồng nhiệt, hăng hái tòng quân, góp phần làm nên những chiến công oanh liệt, giải phóng hoàn toàn đất nước khỏi ách đô hộ của giặc Minh.
Sau chiến thắng Tân Bình, Thuận Hóa, Lê Lợi đã đánh giá con người và vùng đất chiến lược này trong kháng chiến chống giặc Minh “Tân Bình, Thuận Hóa là đất lòng dạ của ta, đã được đất ấy rồi thì không còn mối lo về phía trong nữa”1. Âm vang của chiến trường và con người Quảng Trị trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh muôn thủa lẫy lừng, bất diệt. Người dân Gio An rất tự hào vì đã đóng góp xứng đáng.
Từ năm 1786, nhân dân Gio An tham gia cuộc khởi nghĩa thống nhất đất nước do Nguyễn Huệ lãnh đạo. Thanh niên 15 tuổi trở lên gia nhập nghĩa binh, còn ông bà gìa và phụ nữ thì tích cực lao động sản xuất phục vụ chiến đấu. Tiếp đó, trong cuộc kháng chiến chống giặc Thanh, mọi người dân Gio An và Quảng Trị đều tham gia. Thanh thiếu niên từ 12 tuổi trở lên có lệnh phải đầu quân, tu sĩ cũng ra trận.
Thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, triều đình nhà Nguyễn chống cự yếu ớt rồi lần lượt dâng đất cho Pháp. Nhân dân Gio An vốn sẵn chí căm thù, một lần nữa theo lời kêu gọi của các sĩ phu tòng quân giết giặc. Tại Tân Sở (Cam Lộ), phái chủ chiến trong triều đứng đầu là Tôn Thất Thuyết đã huy động sức dân xây dựng sơn phòng, mưu đánh Pháp lâu dài. Nhân dân Gio An không tiếc mồ hôi, công sức tham gia. Mỗi dân đinh đóng góp 4 gốc tre la ngà, đưa trồng thành lũy chướng ngại, ngày đêm vận chuyển lương thực, súng đạn vào thành.
Sau khi ra Tân Sở, vua Hàm Nghi ban Dụ Cần vương cứu nước. Hưởng ứng Dụ Cần Vương, các sĩ phu yêu nước của Gio Linh đã chiêu tập nghĩa quân, đắp lũy, rào làng chống Pháp. Nhân dân Gio An tham gia đông đảo, ngày đêm luyện tập. Thủ lĩnh nghĩa quân là Trương Đình Hội, Nguyễn Tự Như, Trần Quang Chuyên, Hoàng Hoãn cùng với các ông Hồ Ưu, Hồ Khoa, Hồ Kích (người An Nha), Nguyễn Thoại (An Hướng), Trần Hoành (Hà Thượng), Cai Phùng (Lan Đình). Với vũ khí tự chế và tinh thần đánh giặc dũng cảm, nghĩa quân đã đánh Pháp ở thị xã Quảng Trị và nhiều nơi khác. Cuộc chiến đấu diễn ra rất ác liệt. Thực dân Pháp và tay sai ở Quảng Trị gặp nhiều phen điêu đứng. Tháng 6-1886, nghĩa quân tấn công nha Triệu Phong, đốt giấy tờ, sổ sách, trại lính, khí giới, đánh nhau kịch liệt ở nam Cửa Việt. Sau đó, nghĩa quân kéo về đánh địch ở Trạng Mè, núi Rau Khoai, đánh các trận ở Bái Sơn, Gia Bình. Địch tiếp tục bị thiệt hại nặng. Ngoài những trận đánh với quân Pháp và triều đình nhà Nguyễn, nghĩa quân còn kéo ra Di Loan, An Ninh đánh bọn phản động lợi dụng Thiên chúa giáo. Lãnh binh Hồ Ưu người An Nha cùng Trương Đình Hội hy sinh tại Di Loan. Lãnh binh Hồ Kích đem quân về đóng ở Trạng Mè. Nhiều người con của quê hương Gio An đã ngã xuống vì nền độc lập dân tộc.
Triều đình Đồng Khánh cử Nguyễn Hữu Độ hiệp lực với quân Pháp đem quân tấn công các căn cứ nghĩa quân ở vùng rừng núi Gio Linh. Giao chiến diễn ra hết sức kịch liệt. Lực lượng nghĩa quân tan rã dần. Nhiều làng mạc nói chung và riêng ở Gio An bị tàn phá. Các thủ lĩnh nghĩa quân phần lớn hy sinh và bị sa vào tay giặc, nhưng tinh thần chiến đấu ngoan cường của nghĩa quân, trong đó có rất nhiều người dân Gio An vẫn sống mãi trong lòng nhân dân Quảng Trị. Tuy thất bại, nhưng ý chí căm thù giặc càng khắc sâu, người Gio An cùng nhân dân Gio Linh và cả tỉnh tiếp tục đứng lên chống Pháp.
Run sợ trước phong trào kháng chiến của nhân dân Gio An nói riêng và cả Quảng Trị nói chung, triều đình nhà Nguyễn đã ra lệnh củng cố và bảo vệ Quảng Trị từ tỉnh đến tận xã, thôn. An Nha được coi là một trong những nơi trọng yếu, triều đình phải nhờ quân đội Pháp đóng giữ. 
Năm 1906, tổ chức Duy Tân Hội do Trần Cửu Cai đứng đầu đã được thành lập ở Quảng Trị. Các cuốn sách đầy bầu nhiệt huyết của cụ Phan Bội Châu như Hải ngoại huyết thư, Việt Nam vong quốc sử lưu hành bí mật đã có tác dụng động viên rất lớn tinh thần yêu nước của nhân dân Gio An.
Năm 1908, nhân dân Gio An tham gia cuộc đấu tranh chống thuế do Trần Cửu Cai lãnh đạo và đến năm 1916, hưởng ứng tích cực vụ mưu khởi nghĩa do vua Duy Tân đứng đầu.
Từ 1930-1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nhân dân Gio An không tiếc máu xương đấu tranh liên tục, bền bỉ giành và giữ vững nền độc lập dân tộc, giải phóng quê hương. Lớp lớp các thế hệ người Gio An lên đường ra trận. Chiến trường Gio An vang dội chiến công hiển hách, lưu danh muôn thủa. Nhân dân Gio An đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của đất nước.
Truyền thống anh dũng kiên cường trong quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm cùng với những phẩm chất tốt đẹp của nhân dân Gio An vẫn được bồi đắp và phát huy trong công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương văn minh, giàu đẹp.
(Còn nữa)


Thứ Năm, 20 tháng 11, 2014

Gio An Quê Tôi [Video HD 1080]


Gio An là một xã ở phía Tây của huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.
Xã có diện tích là 277,01 ha và dân số là 3312 người. Xã bao gồm các thôn: An Bình, An Hướng, An Nha, Gia Bình, Hảo Sơn, Long Sơn, Tân Văn.

Đây là một xã thuần nông. Nông sản chủ yếu là cao su, cà phê, hồ tiêu, lúa và rau Xalach-xoong (rau Liệt).
Những số liệu thống kê có thể bạn chưa biết về quê hương Gio An
Gio An nằm ở phía tây huyện Gio Linh, diện tích đất tự nhiên 2.711 ha.
- Phía Đông giáp xã Gio Châu.
- Phía Tây giáp 3 xã: Hải Thái, Linh Thượng, Vĩnh Trường.
- Phía Nam giáp 2 xã: Gio Hòa, Gio Sơn
- Phía Bắc giáp 2 xã: Trung Sơn, Gio Bình.

Chiều dài của xã từ Đông-Tây (Dốc Sỏi-Khe Mướp): 09 Km, chiều rộng theo hướng Bắc-Nam, chỗ rộng nhất 5 Km, chỗ hẹp nhất 1 km.
Về dân số: Hiện toàn xã có 966 hộ, 4125 nhân khẩu, trong đó có 2036 nhân khẩu nam, 2081 nhân khẩu nữ.
Gio An là xã trung du gò đồi, đất đỏ bazan là chủ yếu, rất phì nhiêu, địa hình có độ cao từ 100-250m tính từ mặt nước biển.
Những cây công nghiệp trong thế mạnh sản xuất nông nghiệp của Gio An là: Hồ tiêu, Cao su và Xà lách xoong (Rau Liệt).
Thu nhập bình quân của xã được xếp vào tốp những xã có thu nhập cao nhất huyện Gio Linh: từ 18-20 triệu/người/ năm.
-----------------------------------------------------------------------------------------
We do not own this audio. All rights belong to its rightful owner. This clip is copyright.

Thứ Hai, 17 tháng 11, 2014

Gio An Quê Hương Tôi [Video HD 1080]


Gio An là một xã ở phía Tây của huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.
Xã có diện tích là 277,01 ha và dân số là 3312 người. Xã bao gồm các thôn: An Bình, An Hướng, An Nha, Gia Bình, Hảo Sơn, Long Sơn, Tân Văn.

Đây là một xã thuần nông. Nông sản chủ yếu là cao su, cà phê, hồ tiêu, lúa và rau Xalach-xoong (rau Liệt).
Những số liệu thống kê có thể bạn chưa biết về quê hương Gio An
Gio An nằm ở phía tây huyện Gio Linh, diện tích đất tự nhiên 2.711 ha.
- Phía Đông giáp xã Gio Châu.
- Phía Tây giáp 3 xã: Hải Thái, Linh Thượng, Vĩnh Trường.
- Phía Nam giáp 2 xã: Gio Hòa, Gio Sơn
- Phía Bắc giáp 2 xã: Trung Sơn, Gio Bình.

Chiều dài của xã từ Đông-Tây (Dốc Sỏi-Khe Mướp): 09 Km, chiều rộng theo hướng Bắc-Nam, chỗ rộng nhất 5 Km, chỗ hẹp nhất 1 km.
Về dân số: Hiện toàn xã có 966 hộ, 4125 nhân khẩu, trong đó có 2036 nhân khẩu nam, 2081 nhân khẩu nữ.
Gio An là xã trung du gò đồi, đất đỏ bazan là chủ yếu, rất phì nhiêu, địa hình có độ cao từ 100-250m tính từ mặt nước biển.
Những cây công nghiệp trong thế mạnh sản xuất nông nghiệp của Gio An là: Hồ tiêu, Cao su và Xà lách xoong (Rau Liệt).
Thu nhập bình quân của xã được xếp vào tốp những xã có thu nhập cao nhất huyện Gio Linh: từ 18-20 triệu/người/ năm.
-----------------------------------------------------------------------------------------
We do not own this audio. All rights belong to its rightful owner. This clip is copyright.

Thứ Hai, 10 tháng 11, 2014

Xã Gio An quê tôi


Những số liệu thống kê có thể bạn chưa biết về quê hương Gio An
Gio An nằm ở phía tây huyện Gio Linh, diện tích đất tự nhiên 2.711 ha.
- Phía Đông giáp xã Gio Châu.
- Phía Tây giáp 3 xã: Hải Thái, Linh Thượng, Vĩnh Trường.
- Phía Nam giáp 2 xã: Gio Hòa, Gio Sơn
- Phía Bắc giáp 2 xã: Trung Sơn, Gio Bình.

Chiều dài của xã từ Đông-Tây (Dốc Sỏi-Khe Mướp): 09 Km, chiều rộng theo hướng Bắc-Nam, chỗ rộng nhất 5 Km, chỗ hẹp nhất 1 km.
Về dân số: Hiện toàn xã có 966 hộ, 4125 nhân khẩu, trong đó có 2036 nhân khẩu nam, 2081 nhân khẩu nữ.


Gio An là xã trung du gò đồi, đất đỏ bazan là chủ yếu, rất phì nhiêu, địa hình có độ cao từ 100-250m tính từ mặt nước biển.
Những cây công nghiệp trong thế mạnh sản xuất nông nghiệp của Gio An là: Hồ tiêu, Cao su và Xà lách xoong (Rau Liệt).
Thu nhập bình quân của xã được xếp vào tốp những xã có thu nhập cao nhất huyện Gio Linh: từ 18-20 triệu/người/ năm.