Sponsors

Giới Thiệu

Chủ Nhật, 23 tháng 11, 2014

Một thoáng quê hương Gio An



ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ, VĂN HÓA XÃ HỘI VÀ TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC
1. Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội
- Về kinh tế
Người Gio An chủ yếu sống bằng nghề nông. Mặc dù khí hậu, thời tiết khắc nghiệt nhưng với tiềm năng đất đai màu mỡ, từ lâu đời, Gio An là vùng đất trù phú với các loại cây hồ tiêu, dứa, chè, mít, chuối. Ở đây có loại nếp suốt, nếp đa đa, nếp mộng, nếp sáp nổi tiếng. Các loại cây lạc, cây hồ tiêu và sau này có cây cao su là nguồn thu nhập chủ yếu. Tuy diện tích nhỏ hẹp, bị chia cắt bởi các gò, đồi, độ phì nhiêu kém, việc dẫn nước tưới tiêu rất khó khăn (chủ yếu là thiếu nước) nhưng cũng từ rất sớm, con người nơi đây chinh phục tự nhiên để phát triển nghề trồng lúa nước.
Khi thực dân Pháp sang xâm lược, chúng đã đưa cây rau xà lách soong (người dân nơi đây gọi là rau liệt) đến trồng và người dân Gio An tiếp tục phát triển, trở thành cây thực phẩm đặc sản của quê hương.
Cùng với nghề nông, tiểu thủ công nghiệp và lâm nghiệp ở Gio An khá phát triển như nghề mộc, nghề rèn, đan lát, may mặc, khai thác lâm sản.
Xa xưa, tuy địa thế hiểm yếu, giao thông khó khăn nhưng Gio An vẫn là trung tâm của miền Tây Gio Linh, giao lưu buôn bán ở đây khá phát đạt. Chợ An Nha ở Gio An có từ rất sớm, là nơi tụ họp, trao đổi hàng hóa của nhân dân trong vùng.


- Về văn hóa, xã hội
             Các nhà khảo cổ học đã khẳng định: vào thời tiền sử và sơ sử, ở miền biển và ven biển Quảng Trị đã có một bộ phận cư dân tiền ChămPa sinh sống, song hành phát triển với tộc người thuộc ngữ hệ MônKhơme (tổ tiên của bà con Vân Kiều, Tà Ôi (Pa Cô)) ở hai bên triền Đông - Tây Trường Sơn (Việt - Lào) ngày nay.
Trên vùng đất Quảng Trị nói chung hay Gio An nói riêng; bất chấp chiến tranh, biến động, gần một thiên niên kỷ tạo lập vương quốc (thế kỷ IV-XI), người Chăm đã để lại một hệ thống di sản văn hóa khá lớn. Trong đó, độc đáo và tiêu biểu là hệ thống các công trình khai thác nước cổ Gio An.
Tiếp quản vùng đất mới, song hành với quá trình hình thành làng xã, nhằm an cư lập nghiệp lâu đời; người Việt đã kế thừa những thành quả đã có, cải tạo và phát huy tác dụng để đáp ứng đời sống kinh tế - xã hội của mình. Hệ thống các công trình khai thác nước cổ Gio An là một đặc trưng tiêu biểu. 


"Đó là một hệ thống công trình khai thác nước cổ sử dụng chất liệu đá xếp với nhiều kiểu kiến trúc độc đáo, mang tính chất đa chức năng, phục vụ đắc lực cho đời sống sản xuất và sinh hoạt của con người qua bao đời; nằm rải rác phía Bắc và phía Nam đường 75, địa phận các làng An Nha, An Hướng, Hảo Sơn, Long Sơn, Thanh Khê, Tân Văn thuộc xã Gio An (Nhằm bảo vệ những công trình khai thác nước cổ có một không hai này, ngày 13-3-2001, Bộ Văn hoá Thông tin đã ra Quyết định số 08-2001/QĐ-BVHTT công nhận 14 giếng tiêu biểu trong toàn bộ hệ thống này vào hạng di tích quốc gia.). Hệ thống giếng cổ trên đất Gio An mang những tên gọi thuần Việt, do chính những người dân Việt vùng này đặt tên và phân bố khá đều trên từng khu vực của các làng. Làng Hảo Sơn có giếng Ông, giếng Bà, giếng Tép, giếng Gai. Làng Long Sơn có giếng Máng, giếng Cây Thị, giếng Cây Bàng. Làng Tân Văn có giếng Trằm, giếng Pheo, giếng Boộng, giếng Làng. Làng An Nha có giếng Đào, giếng Kình, giếng Trạng, giếng Búng, giếng Sỏi. Làng Gia Bình có giếng Họng, giếng Đìa, giếng Tranh, giếng Xóm, giếng Tắt. Làng An Hướng có giếng Côi, giếng Dưới, giếng Dù, giếng Mít, giếng Đuồi, giếng Sợi. Làng Thanh Khê có giếng Nậy, giếng Gái. Làng Phương Xuân có giếng Phường.... 
Hàng trăm năm đã qua, với bao cuộc chiến tranh khốc liệt và tác động của điều kiện tự nhiên, xã hội nhưng một số lượng lớn các công trình nước cổ ở Gio An vẫn giữ được nguyên trạng và con người nơi đây vẫn gìn giữ, sử dụng nó phục vụ đời sống.
Hệ thống các công trình khai thác nước cổ này được xây dựng ven các quả đồi lớn, nhỏ trong hệ thống đồi bazan Cồn Tiên. Đặc điểm kỹ thuật nổi bật là các công trình đều được xây dựng theo phương thức xếp, kè đá và đều cùng chung mục đích là khai thác nguồn nước ngầm để thực hiện hai chức năng: cung cấp nước sinh hoạt và phục vụ sản xuất nông nghiệp. Kết cấu của chúng phụ thuộc vào từng loại mạch cụ thể (ngầm hay phun nổi), nhưng tất cả đều lợi dụng sự chênh lệch về độ cao để tạo ra dòng chảy tự nhiên"1.



Trải qua hàng thế kỷ, các công trình khai thác nước cổ ở Gio An đã trở thành sản phẩm văn hóa của nhiều lớp dân cư và đã trở thành một trong những sản phẩm văn hóa đặc sắc, độc đáo, thể hiện lối ứng xử khôn khéo, thông minh của con người trước tự nhiên nhằm khai thác tốt tiềm năng vốn có của vùng đất mà họ gắn bó, thủy chung. Đó là niềm tự hào to lớn của người Gio An.
Sống trên mảnh đất mà chiến tranh, loạn lạc, phân ly thường xuyên xảy ra; điều kiện thiên nhiên lại hết sức khắc nghiệt đã rèn đúc cho con người nơi đây những phẩm chất cao đẹp. Người Gio An từ xưa đã rất nhẫn nại, cần cù, chịu thương, chịu khó, thông minh, sáng tạo, tự lập, tự cường xây dựng cuộc sống và rất khảng khái, bộc trực, thủy chung, có tâm hồn trong sáng, bình dị. Trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, người Gio An kiên cường, bất khuất, dũng cảm, không cam chịu cuộc đời nô lệ. 
Tuy cuộc sống vất vả, khó khăn, nhưng người Gio An vẫn nuôi dưỡng, bồi đắp truyền thống lạc quan, tin tưởng; vẫn hằng mơ ước một cuộc sống no ấm, hạnh phúc qua những điệu hò, câu hát dân ca.... Thời vua Minh Mạng, tại chùa Long Phước cứ ba năm tổ chức hát bội một lần.
Người Gio An nói riêng, người Quảng Trị nói chung đều giữ gìn phong tục thờ cúng tổ tiên. Hầu hết các gia đình đều có bàn thờ tổ tiên trong nhà với ý nghĩa là đạo lý, tình cảm, lòng tôn kính, ơn nghĩa đối với tổ tiên ông bà, cha mẹ và những người thân ruột thịt đã mất. Cùng với việc thờ cúng trong từng gia đình, các chi, họ, dòng tộc còn có nhà thờ và tổ chức cúng giỗ theo một ngày nhất định trong năm.
Đình làng là nơi thờ các vị thần linh và các bậc tiền bối. Dân làng còn lập miếu, đền để thờ thần Hoàng, bà Thủy, bà Hỏa, tiền khai khẩn, thần linh như miếu bà Hoả ở thôn Gia Bình. Trải qua nhiều cuộc chiến tranh tàn phá, dấu tích văn hóa vật thể này đã không còn.
Thời chúa Nguyễn, dân ba làng An Định Nha, An Hướng và Phương Xuân đã dựng miếu ở An Định Nha thờ chúa Nguyễn Hoàng. "Chúa nghe khen tốt, sai quân đem mũ, áo bào thần ngự bày ở miếu, lại sai đặt chức từ thừa để trông coi, cho bằng son"2. Năm 1823, vua Minh Mạng cho dựng chùa Long Phước.


Thế kỷ XVIII, khi Thiên chúa giáo gia nhập vào Quảng Trị, Gio An chỉ có một số dân ở thôn Gia Bình theo đạo. Nhà thờ Gia Bình cũng được xây dựng. Tuy nhiên, chiến tranh loạn lạc, bà con Thiên chúa giáo di tản đến các địa phương khác sinh sống, nhà thờ Gia Bình cũng không còn.
Đạo Phật du nhập vào Gio An khoảng năm 1938. Đến năm 2005, toàn xã có khoảng 30-40 gia đình Phật tử. Ngôi chùa đầu tiên được xây dựng năm 1940 tại Gia Bình, năm 1960 tái thiết chùa tại An Nha, nhưng 2 chùa này đều bị bom đạn tàn phá. Năm 2004, chùa được dựng lại tại thôn Gia Bình để phục vụ sinh hoạt tôn giáo cho nhân dân.
Dưới thời thực dân phong kiến, bộ máy cai trị các làng ngoài lý trưởng và phó lý còn có "ngũ hương". Hương bộ giữ sổ sách đinh điền, quan hôn, tang tế, giấy tờ...Hương kiểm giữ gìn an ninh trật tự. Hương đoàn lo việc canh gác. Hương mục lo việc xã hội và cùng hương đoàn tuần phòng ban đêm. Hương thơ lo việc bưu chính. 
Với mục đích khai thác tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt, thu lợi nhuận tối đa, sau khi chiếm được đất nước ta và đặt ách thống trị lên ba nước Đông Dương, thực dân Pháp biến nền kinh tế Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng lệ thuộc vào nền kinh tế chính quốc. Về mặt xã hội, chúng duy trì chế độ phong kiến lỗi thời, lạc hậu để kìm hãm sự phát triển của đất nước ta.
Thực dân Pháp ra sức chiếm đoạt ruộng đất của nông dân. Bọn quan lại triều Nguyễn cũng dựa vào thế lực thực dân, cướp đoạt ruộng đất. Gio An cũng như các địa phương khác, ngoài phần ruộng đất bị thực dân, phong kiến tước đoạt; số ruộng đất còn lại chủ yếu là của công. Ruộng đất tư chỉ còn 10%. Ruộng đất công, cứ ba năm quân cấp một lần. Đàn ông từ 18-60 tuổi được cấp một suất ruộng; từ 60 tuổi trở lên được cấp nửa suất. Trước khi đưa ra quân cấp, một phần ruộng tốt bị trích làm ruộng tế điền, hương hỏa, du lạp, lương điền, cấp phí điền (tức ruộng cấp cho lý trưởng, phó lý..). Số ruộng này đem ra đấu giá phần lớn vào tay bọn nhà giàu, thực chất là địa chủ cường hào và những nhà giàu khác; dựa vào thế lực biến ruộng công thành ruộng tư, thuê mướn nông dân làm hoặc phát canh thu tô. Số ruộng đất còn lại quân cấp theo thứ bậc. Trong đó, thiệt thòi nhất là bạch đinh, chỉ được nhận những phần ruộng đất xấu. Về danh nghĩa mọi người đều được hưởng một suất ruộng công, nhưng trên thực tế, phần đông nông dân không có ruộng, hoặc chỉ có rất ít, lại thiếu phương tiện canh tác; đến mùa thu hoạch, nhiều nhà không đủ thóc nộp sưu thuế. Một số nông dân có sức lao động, nhưng không có ruộng buộc phải lĩnh canh ruộng của địa chủ, phú nông về làm và nộp tô. Mức địa tô rất nặng: vụ chính phải nộp 50% số thu hoạch, vụ phụ từ 25-30%. Thêm vào đó, người dân còn phải nộp thuế thân, thuế điền thổ, thuế công ích. Dân nghèo không có tiền nộp thuế, thường xuyên bị xiềng tay chân, tra tấn nhục hình.
Địa chủ, phú nông còn bóc lột nông dân bằng cách cho nuôi rẽ trâu, bò, lợn1. 
Cùng với sưu cao, thuế nặng, thực dân Pháp còn đặt ra các thứ “lạc quyên”, “quốc trái”để cướp không của cải và sức lao động của nhân dân ta một cách hợp pháp.
Chính sách kinh tế đó đã xô đẩy nhân dân Gio An cũng như nhân dân Quảng Trị vào con đường bần cùng hóa. Suốt đời cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc; người nông dân phải đem thân đi ở đợ cho địa chủ, phú nông. Nợ nần chồng chất, họ phải đem con gái làm vợ lẽ cho bọn chủ. Nhiều người phải tha hương cầu thực, lìa bỏ gia đình, quê hương vào các đồn điền, hầm mỏ làm thuê kiếm sống. Một số phiêu bạt tận Lào, Thái Lan, không mong ngày trở về...
Về chính trị, nhân dân Gio An bị tước bỏ mọi quyền tự do, dân chủ; luôn bị bộ máy tay sai đắc lực của thực dân phong kiến khống chế, đàn áp.
Đến năm 1925, Gio An mới có một trường học, nhưng chỉ có một phòng học, chia làm ba lớp, mỗi lớp chỉ có 5, 6 học sinh từ lớp 5 đến lớp 3 và cũng chỉ có một giáo viên. Đến năm 1940, ở An Hướng xây thêm một trường, 2 phòng học, hai giáo viên. Vì vậy, hầu hết nhân dân mù chữ. Trạm y tế không có, dịch bệnh thường xuyên xảy ra cướp đi sinh mạng của rất nhiều người. Trong bối cảnh đó, các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan phát triển, càng tạo điều kiện cho thực dân, phong kiến lừa bịp, bóc lột.
Mặc dù việc học hành của người dân rất khó khăn nhưng Gio An vẫn có người học giỏi, đỗ đạt, tiêu biểu có ông Lê Chuẩn, sau đổi là Hoành (có tài liệu ghi là họ Lâm-Lâm Hoằng), quê ở Gia Bình. Ông sinh năm Giáp Thân (1824), 45 tuổi thi Hội khoa Mậu Thân, niên hiệu Tự Đức thứ 21 (1868) đỗ Phó bảng, làm quan đến chức Tham tri Bộ công, sung vào việc phòng thủ mặt biển ở cửa Thuận An, hy sinh vì nước. Sau khi mất, ông được truy tặng chức Thượng thư.
Dưới ách thống trị, khai thác và bóc lột của thực dân Pháp, tình hình xã hội Gio An đã thay đổi. Bên cạnh mâu thuẫn giữa giai cấp địa chủ, phong kiến với nông dân, còn có mâu thuẫn đối kháng sâu sắc giữa nhân dân Gio An với thực dân xâm lược. 
Giai cấp nông dân chiếm phần lớn số dân trong xã. Từ xa xưa, người Gio An đã cần cù, thông minh, chịu thương, chịu khó, biết chinh phục thiên nhiên phục vụ sản xuất và đời sống. Nhưng dưới chế độ cũ, nông dân Gio An bị thực dân phong kiến, địa chủ, phú nông bóc lột, đàn áp đủ bề. Thêm vào đó, thiên tai thường xuyên xảy ra; hạn hán, lụt lội càng làm cho đời sống người nông dân cơ cực, khốn khổ. Lợi dụng cơ hội đó, giai cấp địa chủ cường hào tăng cường đầu cơ tích trữ lương thực, mua rẻ, bán đắt, bắt chẹt nông dân, khiến họ lâm vào cảnh bần cùng.
Nước mất, nhà tan, cũng như người nông dân cả nước, nông dân Gio An luôn tỏ rõ chí khí kiên cường, bao phen đứng lên đánh giặc ngoại xâm, mong muốn Tổ quốc độc lập, người cày có ruộng. Khi có Đảng lãnh đạo, đông đảo nông dân Gio An đứng lên theo Đảng làm cách mạng.



Nguồn từ: fb: https://www.facebook.com/gioan.quetoi


0 nhận xét:

Đăng nhận xét